Trên cùng một bản vẽ kết cấu, chữ “thép xây dựng” có thể chỉ thanh vằn D20 nằm trong dầm bê tông, mà cũng có thể chỉ cây thép hình H300 dựng làm cột nhà xưởng. Hai nhóm hàng này khác nhau về tiêu chuẩn sản xuất, cách đặt hàng và cách nghiệm thu. Gọi chung một tên là chỗ phát sinh phần lớn sai sót khi lên đơn vật tư.
Bài viết này phân nhóm lại toàn bộ mặt hàng thường được gọi là thép xây dựng, đưa ra bảng tra nhanh hạng mục nào dùng loại nào, và chỉ ra bốn lỗi khiến đơn hàng phải trả về. Hùng Phát viết từ góc của đơn vị cấp hàng cho tổng thầu và nhà máy, nên phần lớn ví dụ lấy từ tình huống đặt hàng thật.
1/ Thép xây dựng gồm những nhóm nào?
Cách phân nhóm có ích nhất không phải theo hình dáng mà theo vai trò chịu lực. Thép nằm trong bê tông và thép tự đứng chịu lực là hai bài toán tách rời nhau, từ tiêu chuẩn cho tới cách tính khối lượng.
| Nhóm | Mặt hàng | Vai trò | Tiêu chuẩn thường gặp | Đơn vị đặt hàng |
|---|---|---|---|---|
| Thép cốt bê tông | Thanh vằn, thanh tròn trơn, lưới thép hàn | Chịu kéo bên trong cấu kiện bê tông | TCVN 1651-1:2018, TCVN 1651-2:2018 | kg hoặc tấn |
| Thép kết cấu | Thép hình I, H, U, V; xà gồ C, Z | Tự chịu lực, làm cột, dầm, vì kèo | TCVN 5709:2009, JIS G3101, ASTM A36 | cây 6m hoặc 12m |
| Thép ống và hộp | Ống tròn đen, ống mạ kẽm, hộp vuông, hộp chữ nhật | Kết cấu nhẹ, giàn giáo, dẫn chất lỏng, PCCC | JIS G3444, JIS G3466, ASTM A53 | cây 6m |
| Thép tấm | Tấm trơn, tấm gân, tấm cắt theo yêu cầu | Bản mã, sàn thao tác, gia công cơ khí | ASTM A36, JIS G3101 SS400, SM490 | kg hoặc tấm |
Điểm cần nhớ: chỉ nhóm đầu tiên nằm trong bê tông. Ba nhóm còn lại tự đứng, nên chúng chịu chi phối của bài toán ổn định và liên kết, chứ không chỉ bài toán cường độ. Đó là lý do một cây thép hình chọn sai tiết diện có thể vẫn đủ bền mà vẫn mất ổn định khi chịu tải.
Hùng Phát phân phối ba nhóm sau, tức phần thép kết cấu, ống hộp và tấm. Nhóm thép cốt bê tông vẫn được trình bày đầy đủ trong bài vì hầu hết công trình dùng song song cả hai, và người lên vật tư cần đọc được cả hai phía.
2/ Hạng mục nào dùng loại thép nào?
Bảng dưới đây là bảng tra nhanh cho người lên khối lượng vật tư. Nó không thay thiết kế kết cấu, nhưng đủ để kiểm tra xem danh mục vật tư có đang gọi nhầm nhóm hàng hay không.
| Hạng mục | Loại thép thường dùng | Quy cách hay gặp | Ghi chú khi đặt hàng |
|---|---|---|---|
| Móng, dầm, sàn, cột bê tông cốt thép | Thép thanh vằn | D10 đến D32 | Chốt mác CB300-V hay CB400-V trước khi hỏi khối lượng |
| Cột và dầm nhà xưởng, nhà tiền chế | Thép hình H | H100 đến H700 | Ghi rõ mác SS400 hay Q345B, hai mác chênh nhau về giới hạn chảy |
| Dầm cầu trục, dầm sàn thép | Thép hình I | I100 đến I900 | Kiểm tra chiều cao bụng và bề rộng cánh, không chỉ số hiệu |
| Khung sườn, thanh giằng, kết cấu phụ | Thép hình U, thép hình V | U49 đến U400 | Độ dày cánh thay đổi theo nhà máy, phải ghi vào đơn |
| Xà gồ mái, hệ đỡ tôn và ngói | Xà gồ C, xà gồ Z | C100 đến C300 | Khoảng cách xà gồ quyết định tiết diện, chốt trước khi đặt |
| Giàn giáo, lan can, khung nhẹ | Thép hộp, ống thép đen | Hộp 20×20 đến 100×100 | Ngoài trời nên chọn mạ kẽm thay vì đen |
| Hệ PCCC, cấp thoát nước | Ống thép mạ kẽm, ống thép đen | DN15 đến DN200 | Ống PCCC phải đúng chuẩn riêng, không dùng ống kết cấu thay thế |
| Bản mã, tấm đế cột, sàn thao tác | Thép tấm trơn, thép tấm gân | Dày 3mm đến 50mm | Đặt cắt theo yêu cầu rẻ hơn mua tấm nguyên rồi tự cắt |
Hai dòng hay bị lẫn nhất là ống kết cấu và ống PCCC. Chúng nhìn giống nhau ở kho, nhưng ống dùng cho hệ chữa cháy phải đạt chuẩn riêng về áp lực làm việc và thường yêu cầu chứng nhận đi kèm. Lấy ống kết cấu lắp vào hệ PCCC là hạng mục sẽ không qua được nghiệm thu.
3/ Thép cốt bê tông: chọn theo mác, không chọn theo đường kính
Đây là nhóm bị đặt hàng sai nhiều nhất, và gần như luôn sai theo cùng một kiểu: đơn hàng ghi đường kính nhưng bỏ trống mác thép.
Theo TCVN 1651-2:2018, thép thanh vằn được phân theo giới hạn chảy. Ba mác thông dụng là CB300-V, CB400-V và CB500-V, tương ứng giới hạn chảy đặc trưng 300, 400 và 500 MPa. Cùng đường kính D20, thanh CB400-V có giới hạn chảy cao hơn một phần ba so với CB300-V. Bản vẽ luôn ghi mác. Đơn đặt hàng thì hay quên chép lại.
Ba việc kỹ thuật đi kèm nhóm này đã được trình bày riêng, mỗi bài giải quyết một tình huống thường gặp ở công trường:
- Đo đường kính thép vằn: đo đoạn gân hay đoạn trơn — vì sao thước cặp không cho ra đường kính danh nghĩa, và cách xác định quy cách bằng khối lượng trên một mét.
- Cách đọc ký hiệu thép xây dựng chuẩn TCVN — cấu trúc ký hiệu thép cốt bê tông và cách đối chiếu với tiêu chuẩn quốc tế.
- Quy định màu sơn đầu bó thép — cách nhận nhóm cường độ ngay tại bãi mà không cần mở hồ sơ.
Thép cốt bê tông tính tiền theo kg, nên sai lệch khối lượng cho phép của từng thanh ảnh hưởng thẳng vào giá trị đơn hàng. Khi nghiệm thu, cân thử một mét thanh và đối chiếu với khối lượng danh nghĩa là cách kiểm nhanh nhất.
4/ Thép hình: chọn theo kiểu chịu lực, không theo kích thước có sẵn
Thép hình là nhóm Hùng Phát cấp nhiều nhất cho nhà xưởng và công trình công nghiệp. Bốn tiết diện phổ biến không thay thế được cho nhau, dù bảng báo giá hay xếp chúng cạnh nhau.

| Loại | Dải quy cách | Chịu lực tốt ở | Hạng mục điển hình |
|---|---|---|---|
| Thép hình H | H100 đến H700 | Chịu nén và uốn theo cả hai phương | Cột nhà xưởng, cột nhà tiền chế, cẩu tháp |
| Thép hình I | I100 đến I900 | Chịu uốn theo phương bụng | Dầm sàn, dầm cầu trục, thanh đỡ tải |
| Thép hình U | U49 đến U400 | Chịu uốn một phương, dễ liên kết bản mã | Thanh giằng, khung sườn, kết cấu phụ |
| Thép hình V | V25 đến V130 | Chịu kéo và nén dọc trục | Thanh giàn, cột ăng ten, khung đỡ nhẹ |
Khác biệt giữa H và I là chỗ hay bị bỏ qua nhất. Thép H có bề rộng cánh gần bằng chiều cao bụng nên chịu lực tương đối đều theo hai phương, phù hợp làm cột. Thép I có cánh hẹp hơn bụng nhiều, mạnh theo một phương và yếu hẳn theo phương còn lại, nên hợp làm dầm. Dùng thép I làm cột là một cấu kiện khoẻ theo chiều không cần và yếu theo chiều cần.

Số hiệu trên thép hình chỉ nói chiều cao bụng, không nói đủ tiết diện. Cùng ký hiệu H300, hàng của hai nhà máy có thể khác nhau về bề rộng cánh và độ dày. Vì vậy đơn hàng nên ghi đủ bốn số: chiều cao, bề rộng cánh, độ dày bụng, độ dày cánh.

Bảng tra chi tiết theo từng loại đã có sẵn, dùng khi cần con số để tính khối lượng:
- Bảng tra trọng lượng thép hình I, từ I100 đến I900, kèm công thức tính theo diện tích mặt cắt.
- Quy cách và trọng lượng thép hình H, từ H100 đến H700, kèm mác thép theo từng xuất xứ.
- Quy cách thép hình U từ U49 đến U400, độ dày từ 2,5mm đến 15,5mm, cây 6m và 12m.
- Khả năng chịu lực của thép hình I theo TCVN, dùng khi cần kiểm tra lại tiết diện đã chọn.
Với hệ mái, tiết diện xà gồ phụ thuộc trực tiếp vào khoảng cách giữa các thanh. Chốt khoảng cách trước rồi mới chọn tiết diện là thứ tự đúng, và khoảng cách xà gồ lợp ngói tiêu chuẩn có bảng cho từng loại ngói. Toàn bộ dải sản phẩm nhóm này nằm ở trang thép hình.
5/ Thép hộp và ống thép khác nhau ở đâu khi cùng làm kết cấu?
Hai mặt hàng này cùng là thép dạng rỗng, cùng bán theo cây, và thường được xem là thay thế được cho nhau. Trong nhiều hạng mục thì đúng. Nhưng có ba chỗ chúng không giống nhau.
Về tiết diện. Ống tròn chịu xoắn và chịu nén dọc trục tốt hơn hộp vuông cùng khối lượng, vì vật liệu phân bố đều quanh tâm. Đổi lại, hộp vuông và hộp chữ nhật có mặt phẳng nên cắt, hàn và liên kết dễ hơn nhiều. Kết cấu nhiều mối nối thường chọn hộp cho nhanh thi công.

Về lớp bảo vệ. Hàng đen không có lớp phủ, dùng trong nhà hoặc sau đó sơn phủ. Hàng mạ kẽm có lớp kẽm bảo vệ, dùng ngoài trời và nơi ẩm. Chi phí mạ kẽm luôn cộng thêm vào giá thành, nên cùng quy cách thì hàng mạ kẽm không thể rẻ hơn hàng đen. Gặp bảng giá ghi ngược chiều này thì nên hỏi lại trước khi đặt.
Về cách gọi kích thước. Thép hộp gọi theo cạnh ngoài, ví dụ 40×80. Ống thép gọi theo đường kính danh nghĩa DN hoặc đường kính ngoài, và hai con số này không bằng nhau. Đây là nguồn sai lệch thường gặp khi chuyển đổi giữa bản vẽ và đơn hàng.

- Bảng barem thép hộp vuông và chữ nhật, dùng để quy ra khối lượng theo quy cách.
- Kích thước ống thép đen tiêu chuẩn, phân biệt DN, đường kính ngoài và độ dày thành.
- Tiêu chuẩn ống thép mạ kẽm, dùng khi hạng mục đặt ngoài trời.
- Tiêu chuẩn ống thép PCCC, đọc trước khi lấy hàng cho hệ chữa cháy.
Dải hàng đầy đủ nằm ở hai trang thép hộp và ống thép.
6/ Thép tấm: chọn theo chiều dày và mác, không theo tên gọi
Thép tấm ít gây tranh cãi về chủng loại nhưng hay sai về mác. Cùng chiều dày 10mm, tấm SS400 và tấm SM490 có giới hạn chảy khác nhau, và bản mã tính theo mác này mà đặt mua mác kia là một liên kết không đạt như thiết kế.
Ba dạng thường dùng trong xây dựng: tấm trơn cho bản mã và tấm đế cột, tấm gân cho sàn thao tác và bậc thang vì có độ nhám chống trượt, và tấm cắt theo yêu cầu khi số lượng chi tiết nhiều.

Với chi tiết nhỏ và nhiều, đặt cắt sẵn thường rẻ hơn mua tấm nguyên rồi tự cắt, vì phần thép vụn ở khâu cắt thủ công là chi phí thật mà dự toán hay bỏ sót. Xem dải hàng ở trang thép tấm.
7/ Ba thông số phải thống nhất trước khi chốt đơn hàng
Phần lớn tranh chấp khi giao hàng không nằm ở giá, mà nằm ở chỗ hai bên hiểu khác nhau về cùng một dòng trong đơn.
Mác thép. Đây là thông số quyết định khả năng chịu lực. Bản vẽ ghi mác, đơn hàng phải chép đúng mác đó. Bảng tra mác thép và ký hiệu có phần đối chiếu giữa các hệ tiêu chuẩn, dùng khi bản vẽ ghi theo chuẩn nước ngoài còn hàng có sẵn theo chuẩn khác.
Độ dày thực. Thép hình và thép hộp đều có dung sai độ dày, và các nhà máy khác nhau có mức dung sai khác nhau. Đơn hàng chỉ ghi số hiệu mà không ghi độ dày là để ngỏ một khoảng chênh lệch khối lượng.
Chiều dài cây và cách tính khối lượng. Thép hình thường có cây 6m và 12m. Đơn tính theo kg và đơn tính theo cây cho ra hai con số khác nhau khi có hao hụt cắt. Chốt đơn vị tính ngay từ đầu tránh phải đối chiếu lại toàn bộ khi thanh toán.
Đi kèm ba thông số trên là chứng từ CO và CQ. Chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng là thứ bên nghiệm thu sẽ hỏi, và xin bổ sung sau khi hàng đã về công trường luôn khó hơn yêu cầu ngay lúc đặt.
8/ Bốn lỗi hay gặp khi mua thép xây dựng
Bốn lỗi dưới đây lặp lại thường xuyên trong các đơn hàng mà Hùng Phát nhận được, và cả bốn đều phát hiện được trước khi giao hàng.
Một, đặt đường kính mà quên mác. Đơn ghi “thép D20, 5 tấn” không đủ để xuất hàng đúng. Thiếu mác thì bên bán phải đoán, và đoán sai thì cấu kiện không đạt thiết kế.
Hai, lẫn đường kính danh nghĩa với đường kính đo được. Thanh vằn có gân nên thước cặp luôn cho số lớn hơn đường kính danh nghĩa. Kiểm bằng khối lượng trên một mét mới đúng, cách làm nằm trong bài về đo đường kính thép vằn.
Ba, dùng ống kết cấu cho hệ PCCC. Hai loại ống nhìn giống nhau nhưng khác chuẩn và khác yêu cầu chứng nhận. Hạng mục chữa cháy lắp sai loại ống sẽ phải tháo ra làm lại.
Bốn, so giá hai bảng khác đơn vị tính. Một bảng ghi đồng trên kg, một bảng ghi đồng trên cây, và so thẳng hai con số là so hai thứ khác nhau. Quy về cùng đơn vị trước khi kết luận bên nào rẻ hơn.
9/ Câu hỏi thường gặp về thép xây dựng
Thép xây dựng và thép kết cấu có phải là một không?
Không. Thép kết cấu là một nhóm nằm trong thép xây dựng, gồm thép hình, thép hộp, ống thép và thép tấm dùng cho phần khung tự chịu lực. Nhóm còn lại là thép cốt bê tông, nằm bên trong cấu kiện bê tông. Khi trao đổi với nhà cung cấp, gọi đúng nhóm sẽ nhanh hơn nhiều so với gọi chung là thép xây dựng.
Thép hình H và thép hình I dùng thay nhau được không?
Không nên. Thép H có cánh rộng gần bằng bụng nên chịu lực đều theo hai phương, hợp làm cột. Thép I có cánh hẹp, mạnh theo một phương, hợp làm dầm. Đổi vai trò của chúng là đặt một cấu kiện khoẻ theo chiều không cần và yếu theo chiều cần. Trường hợp cụ thể phải theo tính toán của thiết kế kết cấu.
Cùng quy cách thì thép hộp mạ kẽm có rẻ hơn thép hộp đen không?
Không. Hàng mạ kẽm là hàng đen cộng thêm công đoạn mạ, nên giá thành luôn cao hơn khi cùng quy cách và cùng nhà máy. Bảng giá nào cho thấy điều ngược lại thì nên hỏi lại người bán, vì nhiều khả năng hai dòng đang khác quy cách hoặc khác đơn vị tính.
Số hiệu H300 hay U200 đã đủ để đặt hàng chưa?
Chưa. Số hiệu chỉ nói chiều cao tiết diện. Cùng ký hiệu, hàng của hai nhà máy có thể khác nhau về bề rộng cánh và độ dày. Đơn hàng nên ghi đủ chiều cao, bề rộng cánh, độ dày bụng, độ dày cánh, kèm mác thép và chiều dài cây.
Mua thép xây dựng cần những chứng từ gì?
Tối thiểu là chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng của lô hàng, kèm hoá đơn ghi đúng quy cách và mác thép. Với hạng mục PCCC còn cần chứng nhận riêng theo quy định của hệ chữa cháy. Nên yêu cầu ngay khi đặt hàng thay vì xin bổ sung sau.
Giá thép xây dựng hôm nay là bao nhiêu?
Giá thép thay đổi theo ngày và theo từng nhà máy, nên một con số ghi cố định trong bài viết sẽ sai chỉ sau ít lâu. Quy cách và khối lượng đặt hàng cũng làm giá lệch nhau. Cách chính xác nhất là gọi trực tiếp để lấy giá của đúng quy cách cần mua tại thời điểm hỏi.
Chọn nhóm thép trước, chọn nhà cung cấp sau
Thứ tự làm việc gọn nhất khi lên vật tư gồm bốn bước. Xác định hạng mục thuộc nhóm nào theo bảng ở mục 1. Tra loại thép tương ứng ở bảng mục 2. Chốt mác thép và quy cách đầy đủ theo mục 7. Sau đó mới đi hỏi giá, và hỏi cùng lúc nhiều nơi trên cùng một bộ thông số.
Bước thứ tư chỉ có nghĩa khi ba bước đầu đã xong. Hỏi giá khi chưa chốt mác thép là nhận về những con số không so sánh được với nhau, vì mỗi nơi báo theo một giả định khác nhau.
Hùng Phát cung cấp thép hình, thép hộp, ống thép và thép tấm cùng phụ kiện đi kèm, hàng của các nhà máy trong nước và hàng nhập khẩu, giao trên toàn quốc từ kho tại TP.HCM và chi nhánh miền Bắc. Với đơn có nhiều chủng loại, đội kỹ thuật rà lại danh mục vật tư trước khi báo giá để phát hiện sớm những chỗ gọi nhầm nhóm hàng.
Cần đối chiếu quy cách hoặc lấy giá theo đúng danh mục vật tư của công trình, khách hàng gọi hoặc nhắn Zalo:
- Miền Nam: 0938.437.123
- Miền Bắc: 0933.710.789
- Chăm sóc khách hàng: 0971.960.496
Gửi kèm danh mục vật tư hoặc bản vẽ, phản hồi sẽ có cả phần kiểm tra quy cách chứ không chỉ con số giá.