Co hàn bán kính dài và bán kính ngắn khác nhau thế nào? Khác ở độ cong: co dài (LR) uốn theo bán kính 1,5 lần đường kính danh nghĩa, co ngắn (SR) chỉ 1 lần. Vì vậy LR cho dòng chảy êm, ít tổn thất áp, còn SR gọn và thường rẻ hơn nhưng cản dòng nhiều hơn. Phần dưới so sánh kích thước, tổn thất áp, vật liệu và cách chọn theo vị trí lắp.
- LR là lựa chọn mặc định cho đường ống chính, đường hút bơm và dòng có cặn.
- SR dành cho chỗ hẹp: skid, tủ thiết bị, hầm kỹ thuật, nơi LR không lọt.
- Độ dày thành (SCH) và vật liệu không quyết định bán kính; hai thứ này ghi riêng trên đơn đặt hàng.
- Mọi đơn đặt co hàn nên ghi đủ năm mục: DN, SCH, góc, vật liệu, LR hay SR.
1. Bán kính dài và bán kính ngắn khác nhau ở điểm nào?

Co hàn là phụ kiện đổi hướng tuyến ống, hai đầu vát mép để hàn đối đầu vào ống. Một co 90 độ nào cũng bẻ dòng chảy một góc vuông. Thứ phân biệt hai loại là độ cong của khúc bẻ, tức bán kính cung tròn tính từ tâm cung tới đường tâm ống.
Co bán kính dài (long radius, viết tắt LR) có bán kính bằng 1,5 lần đường kính danh nghĩa của ống. Co bán kính ngắn (short radius, SR) có bán kính bằng đúng 1 lần. Cùng một cỡ ống, khúc cong của SR gắt hơn và đoạn rẽ ngắn hơn. Trong tiêu chuẩn ASME, co LR nằm ở B16.9, còn co SR nằm ở B16.28.
Từ sự khác biệt đó kéo theo bốn hệ quả mà người mua nên nắm trước khi chốt đơn:
- Kích thước lắp đặt: khoảng cách từ tâm co tới mặt hàn của LR dài hơn SR đúng một nửa.
- Tổn thất áp: dòng chảy qua khúc cong thoải mất ít năng lượng hơn qua khúc cong gắt.
- Độ mòn: hạt rắn trong dòng va mạnh vào thành ngoài của co SR hơn.
- Giá thành: SR dùng ít vật liệu hơn nên thường rẻ hơn LR cùng cỡ, cùng SCH, cùng vật liệu.
Hai loại co dùng chung kiểu vát mép hàn, chung bảng độ dày thành theo SCH. Nghĩa là về mối hàn và cấp chịu áp, chúng không khác nhau; khác biệt nằm ở hình học và hành vi của dòng chảy.
2. Kích thước tâm–mặt của hai loại chênh nhau bao nhiêu?
Kích thước người thiết kế cần nhất là khoảng cách tâm–mặt, đo từ tâm cung tới mặt vát của một đầu co. Với co 90 độ, giá trị này bằng đúng bán kính cong. Vậy LR bằng 1,5 lần cỡ danh nghĩa tính theo inch, SR bằng 1 lần. Bảng dưới tính sẵn cho các cỡ hay gặp trên công trình, đơn vị inch theo đúng cách tiêu chuẩn ghi cỡ ống.
| DN | Cỡ NPS | Tâm–mặt LR 90° (1,5 × NPS) | Tâm–mặt SR 90° (1 × NPS) |
|---|---|---|---|
| DN25 | 1 inch | 1,5 inch | 1 inch |
| DN50 | 2 inch | 3 inch | 2 inch |
| DN80 | 3 inch | 4,5 inch | 3 inch |
| DN100 | 4 inch | 6 inch | 4 inch |
| DN150 | 6 inch | 9 inch | 6 inch |
| DN200 | 8 inch | 12 inch | 8 inch |
| DN300 | 12 inch | 18 inch | 12 inch |
Nguồn: quy tắc hình học của ASME B16.9 (LR) và ASME B16.28 (SR) cho co 90°. Muốn ra milimét, nhân với hệ số đổi inch sang milimét hoặc đối chiếu bản vẽ của nhà sản xuất, nơi có ghi dung sai.

Quy luật dễ nhớ nằm ngay trong bảng: tâm–mặt của SR đúng bằng cỡ NPS, tâm–mặt của LR bằng cỡ đó nhân thêm một rưỡi. Cỡ càng lớn, chênh lệch tuyệt đối giữa hai loại càng lớn.
Cần lưu ý kích thước tâm–mặt không đổi theo SCH. Co SCH20, SCH40 hay SCH80 cùng cỡ ống đều có cùng tâm–mặt; chỉ độ dày thành và đường kính trong thay đổi. Ai tra bảng cho co SCH80 không cần tìm bảng riêng.
3. Vì sao co bán kính dài ít tổn thất áp hơn?
Khi dòng chất lỏng hay khí đi vào khúc cong, lớp dòng ở phía ngoài phải đi quãng đường dài hơn lớp phía trong. Khúc cong càng gắt, dòng càng bị tách khỏi thành trong và tạo xoáy ngay sau điểm rẽ. Xoáy là nơi năng lượng bị tiêu hao. Co LR bẻ dòng thoải hơn, xoáy yếu hơn, nên tổn thất áp cục bộ thấp hơn co SR cùng cỡ.
Cùng cỡ ống, cùng độ dày thành, hai loại co chịu áp như nhau. Thứ thay đổi là đường đi của dòng chảy qua khúc cong.
Tổn thất áp của một chiếc co thường nhỏ. Nhưng tuyến ống có hàng chục co, bơm chạy liên tục nhiều năm thì mức chênh cộng dồn thành điện năng thật. Muốn tính chính xác, người thiết kế dùng hệ số cản cục bộ hoặc chiều dài tương đương của từng phụ kiện trong tài liệu thủy lực; bài này không thay thế phép tính đó.
Có ba tình huống mà khúc cong thoải gần như là điều kiện bắt buộc chứ không còn là lựa chọn:
- Đường hút bơm: dòng vào bơm cần đều, co gắt sát cửa hút dễ gây tạo bọt khí và rung.
- Dòng có hạt rắn: bùn, cát, bột than hay nước thải; co SR bị mài mòn nhanh ở thành ngoài.
- Tốc độ dòng cao: đường hơi, đường khí nén chính, nơi ồn và rung tăng mạnh theo độ gắt của khúc cong.
Đường ống thoi (pig) là trường hợp riêng. Tuyến loại này thường dùng bán kính lớn hơn LR, như 3D hay 5D, nên đừng mặc định co LR thông thường là đủ.
4. Khi nào nên chọn co bán kính ngắn?
Co SR không phải loại co kém hơn. Nó sinh ra để giải bài toán không gian: nơi LR không lọt, hoặc nơi lắp LR buộc phải dời thiết bị. Trên các skid bơm đóng sẵn, tủ cụm van hay hầm kỹ thuật chật, mỗi trăm milimét tiết kiệm được đều có giá trị.
SR cũng hợp với tuyến phụ lưu lượng nhỏ, dòng sạch, tốc độ thấp: đường xả đáy, đường mẫu, đường cân bằng, ống nhánh vào thiết bị nhỏ. Ở đó tổn thất áp thêm chẳng ảnh hưởng gì, mà SR thường rẻ hơn.
| Chọn co bán kính dài (LR) khi | Chọn co bán kính ngắn (SR) khi |
|---|---|
| Đường ống chính, tuyến dài, nhiều co liên tiếp | Tuyến ngắn, chỗ lắp chật, skid hoặc hầm kỹ thuật |
| Đường hút bơm, dòng cần đều | Tuyến phụ, đường xả, đường mẫu |
| Dòng có hạt rắn hoặc tốc độ cao | Dòng sạch, lưu lượng nhỏ, tốc độ thấp |
| Bản vẽ thiết kế không nêu gì khác | Bản vẽ ghi rõ SR hoặc khoảng hở không cho LR |
Kết luận: không có điều kiện đặc biệt thì chọn LR; chỉ chuyển sang SR khi kích thước lắp đặt buộc phải vậy và dòng chảy chịu được.
5. SCH và vật liệu có làm đổi bán kính không?

Câu trả lời ngắn là không. Bán kính do tiêu chuẩn kích thước quy định cho từng cỡ danh nghĩa, còn SCH chỉ cho biết thành dày hay mỏng. Một co DN100 SCH40 và một co DN100 SCH80 có chung hình dáng bên ngoài ở khúc cong; co SCH80 chỉ dày thành hơn nên nặng hơn và đường kính trong nhỏ hơn.
Vật liệu cũng vậy. Thép carbon, inox 304, inox 316 hay thép mạ kẽm đều sản xuất theo cả hai kiểu LR và SR. Điều khác nhau là cách bảo vệ bề mặt và môi trường dùng. Nhóm phụ kiện hàn của chúng tôi gồm nhiều vật liệu; mỗi loại có trang riêng để tra quy cách:
- Co hàn inox cho đường ống thực phẩm, hóa chất nhẹ, nước sạch và môi trường dễ ăn mòn.
- Co hàn mạ kẽm cho đường ống cấp nước, khí nén và hệ thống cần chống gỉ bề mặt.
- Co lơi hàn inox 45 độ khi tuyến chỉ cần đổi hướng nhẹ, ít tổn thất hơn co 90 độ.
Góc cũng cần tách bạch. Ngoài 90 độ còn có co 45 độ và co 180 độ (còn gọi là co quay đầu). Co 45 độ dòng chảy chỉ bẻ nửa góc nên ít cản hơn, và hai co 45 độ nối nhau thay được một co 90 độ khi cần khúc rẽ thoải hơn nữa. Ngoài LR và SR, người thiết kế đôi khi dùng co 3D, bán kính bằng 3 lần đường kính, cho các tuyến cần dòng đặc biệt êm.
Nếu bạn đang cân nhắc giữa phụ kiện hàn và loại đúc liền, bài về phụ kiện ống thép đúc giải thích khác biệt về cách chế tạo và phạm vi dùng.
6. Cách ghi yêu cầu khi đặt co hàn để không bị giao nhầm
Giao nhầm co LR thành SR, hay ngược lại, rất dễ xảy ra, vì trong nhiều bảng báo giá chữ «co hàn 90 độ» đứng một mình. Cách tránh khá đơn giản. Ghi đủ thông tin theo thứ tự dưới đây trên đơn đặt hàng và trên bản vẽ vật tư.
- Ghi cỡ ống theo DN kèm cỡ inch, ví dụ DN100 (4 inch), để hai bên không hiểu DN thành phi.
- Ghi độ dày thành theo SCH, ví dụ SCH40 hay SCH80, khớp với ống đang nối.
- Ghi góc co: 45, 90 hoặc 180 độ.
- Ghi kiểu bán kính: LR hay SR, viết thẳng ra, không để người bán tự hiểu.
- Ghi vật liệu và tiêu chuẩn: thép carbon, inox 304 hoặc 316, mạ kẽm; tiêu chuẩn kích thước nếu bản vẽ yêu cầu.
Khi bản vẽ chỉ ghi «co hàn» mà không nêu kiểu bán kính, phần lớn nhà cung cấp hiểu là LR vì đó là loại thông dụng. Dù vậy, hãy xác nhận lại bằng văn bản trước khi chốt, nhất là với đơn số lượng lớn.
Dự án đã có bản vẽ thiết kế được duyệt thì lấy số hiệu tiêu chuẩn đúng như bản vẽ. Chưa chắc thì hỏi lại đơn vị thiết kế, đừng tự đặt.
7. Những lỗi hay gặp khi chọn co hàn LR và SR
Mấy sai sót dưới đây lặp lại ở nhiều tuyến ống, nên đối chiếu trước khi đặt hàng:
- Trộn LR và SR trên cùng một tuyến mà không tính lại chiều dài ống cắt: mỗi chiếc lệch 2 inch ở cỡ DN100, cộng dồn qua vài co là sai hẳn vị trí mặt bích.
- Dùng SR cho đường hút bơm chỉ vì chật chỗ, rồi gặp rung và ồn khi chạy thử.
- Tra nhầm bảng theo SCH: tâm–mặt không đổi theo SCH, nhưng nhiều người tìm bảng riêng cho SCH80 rồi lấy nhầm số.
- Lẫn DN với phi: DN100 ứng với ống 4 inch, còn phi 100 là một cỡ khác; ghi rõ DN và inch để loại nhầm lẫn.
- Bỏ qua ghi chú tiêu chuẩn: bản vẽ nêu ASME mà hàng giao theo tiêu chuẩn khác có thể lệch tâm–mặt vài milimét.

8. Câu hỏi thường gặp
Co hàn không ghi LR hay SR thì mặc định là loại nào?
Thường được hiểu là LR, vì đây là loại thông dụng nhất cho đường ống công nghiệp và dân dụng. Tuy vậy mỗi nhà cung cấp có thể hiểu khác. Cách an toàn là ghi thẳng LR hoặc SR trên đơn đặt hàng, kèm cỡ DN và SCH.
Hai loại co có hàn lẫn vào nhau được không?
Được về mặt kỹ thuật, vì hai loại có chung kích thước mặt hàn và kiểu vát mép. Vấn đề nằm ở chiều dài đoạn ống giữa các co và ở tổn thất áp, nên cần tính lại khi trộn.
Co SR có chịu áp kém hơn co LR không?
Không, nếu cùng vật liệu và cùng SCH. Cấp chịu áp phụ thuộc độ dày thành và vật liệu, không phụ thuộc bán kính cong. Khác biệt thật nằm ở dòng chảy và độ mòn, không phải khả năng chịu áp danh nghĩa.
Co 3D khác gì co LR?
Co 3D có bán kính 3 lần đường kính danh nghĩa, thoải gấp đôi LR. Loại này dùng khi tuyến cần dòng đặc biệt êm hoặc cần chống mài mòn tốt hơn LR, đổi lại chiếm nhiều chỗ hơn hẳn.
Mua co hàn LR hay SR thì cần gửi thông tin gì để báo giá?
Cần cỡ DN, SCH, góc co, vật liệu, kiểu bán kính và số lượng. Giá co hàn phụ thuộc cả năm yếu tố này nên chưa thể báo con số chung; gửi danh sách vật tư để nhận báo giá cho đúng đơn hàng.
Cần chốt co hàn LR hay SR cho tuyến ống của bạn?
Gọi hoặc nhắn Zalo 0938 437 123 — gửi cỡ DN, SCH, vật liệu và số lượng, chúng tôi đối chiếu kích thước tâm–mặt rồi báo giá.
Muốn xem toàn bộ nhóm phụ kiện cùng loại, mời xem danh mục phụ kiện ống thép.
Cập nhật 06/11/2026 bởi Thép Hùng Phát.